Thực thi Luật Công nghiệp Công nghệ số: Một số thách thức và giải pháp hoàn thiện về tài sản số và trí tuệ nhân tạo
(Pháp lý). Thực tế cho thấy, cùng với sự phát triển nhanh chóng của tài sản số và công nghệ AI, đã và đang xuất hiện nhiều thách thức pháp lý phức tạp trong công tác quản lý và thực thi pháp luật, đòi hỏi Việt Nam phải sớm hoàn thiện một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, kịp thời và hiệu quả, vừa bảo đảm kiểm soát rủi ro, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

1. Đặt vấn đề
Sự phát triển nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ số, đã và đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội. Trong bối cảnh đó, tài sản số và trí tuệ nhân tạo (AI) trở thành những yếu tố then chốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhận thức được vai trò này, Nghị quyết 57/NQ-TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 66-NQ-TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cũng nhấn mạnh vào nhiệm vụ thúc đẩy khoa học công nghệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số.
Tháng 6 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật Công nghiệp Công nghệ số năm 2025 (“Luật CNCNS 2025”) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026. Sự ra đời của Luật CNCNS 2025 không chỉ tạo dựng cơ bản hành lang pháp lý cho việc hình thành và phát triển nền kinh tế số mà còn định hướng chiến lược cho sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp công nghệ tại Việt Nam. Luật CNCNS 2025 có hiệu lực sẽ là bước tiến quan trọng trong việc thiết lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh cho các hoạt động liên quan đến công nghệ số, kinh tế số, đặc biệt là đối với tài sản số và trí tuệ nhân tạo – hai lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế số tại Việt Nam.
Tuy nhiên, quá trình triển khai và thực thi luật này tại Việt Nam dự báo sẽ đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích những khó khăn, thách thức và đề xuất giải pháp hoàn thiện vấn đề cần thiết, không chỉ để bảo đảm Luật CNCNS 2025 phát huy hiệu quả trên thực tế, mà còn đảm bảo khai thác tối đa tiềm năng của tài sản số và trí tuệ nhân tạo, giảm thiểu rủi ro và tác động tiêu cực trong quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Theo Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thì “từ đầu năm 2025 đến nay, đã ghi nhận gần 1.500 vụ lừa đảo qua mạng, gây thiệt hại hơn 1.660 tỷ đồng, trong đó các hoạt động liên quan tiền ảo, tiền mã hoá chiếm tỷ lệ lớn”.
2. Quy định pháp luật về tài sản số và trí tuệ nhân tạo theo Luật Công nghiệp Công nghệ số năm 2025
2.1. Quy định pháp luật về tài sản số
Trước sự phát triển nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng như từ nhu cầu cấp thiết của thực tế tại Việt Nam, các quy định pháp luật về tài sản số, tiền mã hóa được ban hành góp phần đáng kể vào định khung pháp lý cho loại tài sản này. Theo quy định tại Điều 46 Luật CNCNS 2025 “Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử”. Đồng thời, khoản 2 Điều 47 Luật CNCNS 2025 quy định về phân loại tài sản số bao gồm (1) Tài sản ảo trên môi trường điện tử; (ii) Tài sản mã hóa và (iii) Tài sản số khác. Theo quy định khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Như vậy, tài sản số chính là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản được thể hiện dưới hình thức là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được biểu diễn bằng tín hiệu số. Tài sản số được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi các phương pháp khoa học, quy trình công nghệ, công cụ kỹ thuật thông qua việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ, trao đổi thông tin, dữ liệu số và số hóa thế giới thực. Các hoạt động, giao dịch liên quan đến tài sản số đều được thực hiện trên mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin.

Ảnh minh họa
Theo đó, tài sản số vừa mang đặc điểm của tài sản nói chung và vừa mang những đặc điểm riêng xuất phát từ chính bản chất số hóa và nền tảng giao dịch mà nó tồn tại. Tài sản số được thể hiện dưới dạng phi vật chất – đây là đặc trưng cơ bản, dễ nhận biết nhất của tài sản số so với các loại tài sản truyền thống. Tài sản số có thể biểu hiện dưới dạng hình thức kỹ thuật số, điện tử lưu trữ trên nền tảng số và không có hình thái vật lý cụ thể nhưng vẫn mang giá trị vì mục đích trao đổi hoặc đầu tư.
Bên cạnh đó, tài sản số được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực phụ thuộc vào công nghệ số. Khác với những loại tài sản hữu hình có thể tồn tại và lưu thông độc lập thông qua các phương thức sản xuất, trao đổi truyền thống nhưng tài sản số được hình thành, tồn tại và vận hành thông qua các nền tảng công nghệ thông tin, mạng internet, hệ thống cơ sở dữu liệu,... Điều này làm cho mọi giao dịch từ khởi tạo đến chuyển giao đều phụ thuộc vào hệ thống kỹ thuật.
Như vậy, tài sản số là một tài sản mới được xuất hiện trong bối cảnh của nền kinh tế số được thể hiện dưới hình thức điện tử, kỹ thuật số và việc tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi các phương pháp khoa học, quy trình công nghệ, công cụ kỹ thuật. Tài sản số mang trong mình bản chất là tài sản thông thường nhưng có những đặc điểm riêng biệt khác với những loại tài sản truyền thống khác. Chính sự kết hợp giữa đặc tính pháp lý truyền thống và công nghệ chuyển đổi số đã tạo nên những yêu cầu quản lý đặc thù, đòi hỏi khung pháp lý phải vừa bao quát được nguyên tắc chung của pháp luật tài sản, vừa cụ thể hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thông tin và giá trị pháp lý của dữ liệu trong môi trường số.

Chíp 5G được Viettel nghiên cứu và phát triển. Ảnh: Viettel
2.2. Quy định pháp luật về trí tuệ nhân tạo
Trí tuệ nhân tạo - Artificial Intelligence (AI) “là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (Computer Science) là trí tuệ do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thẻ tự động hóa các hành vi thông minh như con người”. Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật CNCNS 2025 quy định “Hệ thống trí tuệ nhân tạo là hệ thống dựa trên máy móc được thiết kế để hoạt động với các mức độ tự chủ khác nhau và có khả năng thích ứng sau khi triển khai nhằm đạt được những mục tiêu rõ ràng hoặc ngầm định, suy luận từ dữ liệu đầu vào mà hệ thống này nhận được để tạo ra dự đoán, nội dung, khuyến nghị, quyết định có thể ảnh hưởng đến môi trường thực hoặc môi trường điện tử. Hệ thống trí tuệ nhân tạo là sản phẩm công nghệ số tích hợp giữa phần cứng, phần mềm và dữ liệu”.
Vì vậy, việc luật hóa định danh trí tuệ nhân tạo trong Luật CNCNS 2025 được xem là bước tiến quan trọng, mở ra cơ hội phát triển và ứng dụng công nghệ số ở Việt Nam. Các quy định về trí tuệ nhân tạo trong Luật CNCNS 2025 không chỉ tạo cơ sở pháp lý thống nhất để quản lý và thúc đẩy đổi mới sáng tạo mà còn góp phần bảo đảm tối đa quyền và lợi ích của các chủ thể trong quá trình khai thác AI vào lao động, sản xuất. Có thể thấy rằng, trí tuệ nhân tạo đang trở thành một trong những xu hướng tất yếu của đời sống xã hội không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác. Ngoài ra, hệ thống AI còn mang những đặc điểm bao gồm:
Thứ nhất, là hoạt động “tư duy” của máy móc thông qua việc tiếp nhận dữ liệu. Quá trình “tư duy” này có thể bắt chước nhận thức, hành vi của con người. Do đó, AI có khả năng thích ứng cao như tự học hỏi, tự điều chỉnh hay cải thiện hệ thống.
Thứ hai, hệ thống AI phụ thuộc vào máy móc và công nghệ kỹ thuật. Nếu không có sự kết hợp giữa phần cứng, phần mềm và dữ liệu thì không thể tạo ra AI.
Thứ ba, AI có thể hoạt động với các mức độ tự chủ khác nhau từ bán tự động đến hoàn toàn tự động. Xuất phát từ công cụ hỗ trợ có thể giúp con người đưa ra quyết định, đến mức phát triển thành công cụ đưa ra đề xuất để con người phê duyệt và cuối cùng AI có thể tự quyết định và hành động. Tuy nhiên các mức độ tự chủ của mỗi AI lại phụ thuộc vào thiết kế và mục đích, vai trò cụ thể của chúng.

3. Một số thách thức khi áp dụng quy định về tài sản số và trí tuệ nhân tạo theo Luật Công nghiệp Công nghệ số năm 2025
Tài sản số, trí tuệ nhân tạo đã và đang trở thành một trong những lĩnh vực phát triển đầy tiềm năng trong hệ sinh thái kinh tế số tại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước trong và ngoài khu vực. Về phương diện pháp lý, mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành một số quy định điều chỉnh liên quan, song khung pháp lý hiện hành mới dừng ở mức định hướng, chưa hoàn thiện và chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của thực tiễn. Sự thiếu đồng bộ, chưa tương thích giữa Luật CNCNS 2025 với các đạo luật liên quan như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 20255… đã tạo ra những khoảng trống pháp lý đáng kể.
Những khoảng trống pháp lý này không chỉ gây ra nhiều khó khăn, bất cập trong việc định danh quyền sở hữu đối với thành quả của trí tuệ nhân tạo hay sự công nhận pháp lý của tài sản số mà còn làm gia tăng nguy cơ vi phạm an ninh thông tin, xâm phạm quyền riêng tư, bí mật thông tin. Chính vì thế, việc thi hành Luật CNCNS 2025 trên thực tế phải đối mặt với nhiều thách thức lớn khi khung pháp lý cho lĩnh vực này chưa được đồng bộ hoàn thiện.
Thứ nhất, Luật CNCNS 2025 đã bước đầu đặt nền móng chính thức cho việc điều chỉnh các hoạt động liên quan đến tài sản số và trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam nhưng thực tế những quy định này mang nặng tính chất định hướng, khái quát, thiếu các quy định chi tiết hoặc hướng dẫn cụ thể để triển khai áp dụng trên thực tế. Hiện vẫn chưa có văn bản dưới luật nào được ban hành hướng dẫn thi hành Luật CNCNS 2025 làm cho các chủ thể liên quan từ cơ quan quản lý đến doanh nghiệp và cá nhân gặp lúng túng trong thực tiễn về việc xác định chính phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Luật CNCNS 2025.
Bên cạnh đó, việc thiếu khung pháp lý cụ thể về tài sản số và trí tuệ nhân tạo khiến cho việc xác định chủ thể quyền sở hữu, sản phẩm, thành tựu do AI tạo ra chưa được xác định cụ thể. Chưa có quy định về cơ chế đánh giá, kiểm tra, giám sát hay tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản đối với tài sản số và sản phẩm của AI. Sự thiếu đầy đủ và thiếu đồng bộ này dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý, làm giảm mức độ tin cậy của các chủ thể vào thị trường số.
Thứ hai, về cơ sở hạ tầng phục vụ việc áp dụng quy định tài sản số và trí tuệ nhân tạo trên thực tế. Một trong những điều kiện tiên quyết để các quy định về tài sản số và trí tuệ nhân tạo được triển khai có hiệu quả trên thực tế là sự hiện diện hạ tầng kỹ thuật và công nghệ tương thích, đồng bộ. Đối với doanh nghiệp hay cá nhân, nếu không có điều kiện hạ tầng phù hợp, họ sẽ khó có thể khai thác tối đa thành tựu của khoa học – công nghệ trong lĩnh vực tài sản số và AI. Ngược lại, đối với cơ quan quản lý nhà nước, việc thiếu nền tảng kỹ thuật hiện đại sẽ trực tiếp làm suy giảm năng lực quản lý, giám sát đối với các lĩnh vực sử dụng công nghệ cao như AI, tài sản số, hoặc thậm chí khiến việc thực thi pháp luật mang tính hình thức.
Thực tiễn cho thấy, cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại Việt Nam vẫn tồn tại hạn chế từ năng lực xử lý dữ liệu, hệ thống lưu trữ, cho đến các công cụ giám sát và kiểm soát. Chẳng hạn, đối với tài sản số, việc xác thực, định danh và truy xuất nguồn gốc vẫn gặp khó khăn do thiếu nền tảng blockchain quốc gia hoặc cơ chế liên thông dữ liệu tin cậy. Vì vậy, thiếu đi tính đồng bộ, tương thích của cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ số đã và đang trở thành thách thức lớn cho việc phát triển, thi hành Luật CNCNS 2025 tại Việt Nam. Chính vì thế, cần thiết phải phải tập trung xây dựng, triển khai phát triển cơ sở hạ tầng mang tính đồng bộ, phù hợp đảm bảo hệ thống an ninh quốc gia, bảo vệ an toàn dữ liệu cá nhân. Từ đó, nâng cao niềm tin của các chủ thể trong xã hội vào sự phát triển của thị trường kinh tế số tại Việt Nam.

Ảnh minh họa
Thứ ba, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu thực thi quy định về tài sản số và trí tuệ nhân tạo. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước cũng như lực lượng thi hành pháp luật tại Việt Nam còn nhiều hạn chế về kiến thức cũng như kỹ năng chuyên sâu liên quan đến công nghệ số, trí tuệ nhân tạo. Sự thiếu thụt nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn này khiến cho quá trình giải thích, áp dụng pháp luật cũng như xử lý vi phạm gặp nhiều lúng túng, dẫn đến nguy cơ quy định pháp luật chỉ dừng lại ở mức hình thức, không triển khai được trên thực tế.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do hệ thống giáo dục – đào tạo và chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về công nghệ số tại Việt Nam chưa theo kịp được tốc độ phát triển của tài sản số và trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần phải có những chính sách, chủ trương kịp thời cho việc phát triển đào tạo nguồn nhân lực bao gồm việc thiết lập chương trình đào tạo chuyên sâu, tổ chức thường xuyên các hoạt động trao đổi chuyên môn, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài sản số và trí tuệ nhân tạo để tiếp thu kinh nghiệm và công nghệ số hiện đại.
4. Một số giải pháp hoàn thiện về tài sản số và trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam
4.1. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
Thứ nhất, cần cụ thể hóa khung pháp lý về tài sản số và trí tuệ nhân tạo
Để quy định pháp luật được áp dụng một cách hiệu quả khi triển khai trong thực tiễn, thì Việt Nam cần phải sớm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn Luật CNCNS 2025. Trong đó một số vấn đề quan trọng nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh như trình tự thủ tục đăng ký, cấp phép cho tài sản số và hệ thống trí tuệ nhân tạo, phương thức xử lý vi phạm, cơ chế giải quyết tranh chấp, phương pháp thẩm định, định giá, cơ quan quản lý... cần phải được quy định cụ thể. Cần thiết phải ban hành song song có hiệu lực thi hành cùng với Luật CNCNS 2025 nhằm tránh để xảy ra rủi ro không đáng có liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật thông tin.
Thứ hai, cụ thể hóa cơ chế sở hữu và sở hữu trí tuệ đối với tài sản số, trí tuệ nhân tạo
Pháp luật cần xác định rõ tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân tạo và tài sản số, đặc biệt cần xem xét tư cách của trí tuệ nhân tạo có phải một loại tài sản không. Từ đó, có cơ sở đưa các loại tài sản này tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Đồng thời, có căn cứ để xác lập các quyền đối với trí tuệ nhân tạo và tài sản số như quyền sở hữu, quyền định đoạt, thừa kế, thế chấp... và các vấn đề có liên quan khác như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với trí tuệ nhân tạo, tài sản số, cũng như các sản phẩm được tạo ra từ những tài sản này.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về thuế và tài chính
Xây dựng cơ chế kê khai, định giá và đánh thuế đối với tài sản số và trí tuệ nhân tạo là hết sức cần thiết. Bởi, việc kê khai và xác định rõ các nghĩa vụ về tài chính nhằm mục tiêu thực hiện tốt công tác quản lý của nhà nước đối với các hoạt động liên quan đến tài sản số và trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, việc xây dựng và quản lý thuế bằng hệ thống giám sát tài chính chung của quốc gia sẽ không chỉ giúp tăng cường tính minh bạch, đảm bảo lợi ích kinh tế, an ninh tài chính của quốc gia, cũng như giúp nâng cao giá trị kinh tế của tài sản số và trí tuệ nhân tạo, mà còn còn hạn chế các vấn đề phát sinh như tội phạm về lừa đảo, rửa tiền, trốn thuế.
4.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi
Thứ nhất, phát triển hạ tầng kỹ thuật và đảm bảo hệ thống an ninh
Xây dựng trung tâm dữ liệu chuẩn quốc tế về khả năng lưu trữ, xử lý và bảo mật dữ liệu. Đặc biệt là đầu tư vào các hệ thống siêu máy tính, trang thiết bị chuyên dụng và hệ thống điện toán đám mây giúp xử lý khối lượng dữ liệu lớn và thuận lợi hơn trong quản lý các hoạt động trên môi trường điện tử. Đồng thời, do môi trường điện tử là môi trường phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ và rủi ro nên cần chủ động tăng cường bảo mật, an ninh cho môi trường số thông qua việc triển khai hiệu quả các công cụ phòng ngừa sớm như giám sát, theo dõi các hoạt động, giao dịch trên môi trường số, tận dụng ưu thế của hệ thống trí tuệ nhận tạo để cho phép tham gia cùng con người trong quá trình kiểm tra và giám sát.
Ngoài ra, cần sử dụng các công nghệ bảo mật hiện đại để bảo vệ dữ liệu, tài sản số, trí tuệ nhân tạo như blockchain, mã hóa đầu cuối dữ liệu. Thêm vào đó, cần chuẩn bị sẵn sàng hệ thống lưu trữ, sao lưu dữ liệu để phòng ngừa tình huống dữ liệu điện tử bị mất, bị đánh cắp hay bị hack.
Thứ hai, sớm hoàn thiện và công bố sàn giao dịch tài sản số quốc gia
Cần sớm đưa vào thử nghiệm sàn giao dịch tài sản số quốc gia để nghiên cứu, đánh giá tính khả thi và điều kiện triển khai, tạo tiền đề để các hoạt động của sàn được khai thác một cách an toàn và phù hợp với thực tiễn. Sàn giao dịch tài sản số nên phát triển theo mô hình tự do có sự điều tiết của Nhà nước như thị trường chứng khoán, tức là không hạn chế ở một sàn giao dịch duy nhất để tránh việc tạo ra rào cản đầu tư, ngược lại còn có thể mở rộng được khả năng huy động vốn, thu hút đầu tư thông qua quy trình và hệ thống minh bạch.
Thứ ba, thiết lập tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho trí tuệ nhân tạo
Xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về phát triển, đánh giá và vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo để đảm bảo việc sử dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo một cách an toàn, có lợi và hợp lý. Các tiêu chí có thể bao gồm: độ chính xác, tính minh bạch, khả năng giải thích, kiểm toán thuật toán,... đặc biệt là vấn đề về đạo đức và minh bạch của trí tuệ nhân tạo để ngăn chặn các hệ thống thiên vị, xâm phạm quyền riêng tư, gây bất công xã hội.
Thứ tư, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế
Thiết lập cơ quan chuyên biệt để quản lý lĩnh vực công nghệ số nói chung và tài sản số, trí tuệ nhân tạo nói riêng. Đồng thời, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức trí tuệ nhân tạo và tài sản số cho cán bộ, công chức, đặc biệt là về vai trò và cách thức sử dụng trí tuệ nhân tạo để phát huy hiệu quả tối đa. Tăng cường tổ chức đào tạo, tuyên truyền, nâng cao hiểu biết cho người dân, doanh nghiệp về quyền, nghĩa vụ, lợi ích, rủi ro liên quan đến tài sản số và trí tuệ nhân tạo. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp số ứng dụng tài sản số vào mô hình kinh doanh.
Thực hiện hợp tác quốc tế sâu rộng, toàn diện với các quốc gia, tổ chức quốc tế có nền tảng vững chắc pháp lý và có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực tài sản số và trí tuệ nhân tạo để học hỏi kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ. Trên môi trường số không tồn tại bất kỳ ranh giới hay phân định nào giữa các quốc gia, khu vực. Vì vậy việc hợp tác quốc tế vừa giúp liên kết các sàn giao dịch tài sản số trong nước với quốc tế để thu hút và mở rộng đầu tư, vừa làm cơ sở để giải quyết các vấn đề liên quan như thu hồi, giải quyết tài sản do phạm tội mà có ở nước ngoài.
5. Kết luận
Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra nhiều định hướng cải cách lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới, đặc biệt là trong lĩnh vực phi truyền thống như trí tuệ nhân tạo và tài sản số. Trên cơ sở đó, Luật CNCNS 2025 ra đời là cơ sở để hình thành các động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới, các ngành công nghiệp mới. Tuy nhiên, Luật cũng đặt ra những thách thức khi đưa vào triển khai trong thực tiễn. Vì vậy, cần phải có những giải pháp phù hợp để việc thực thi Luật nói chung, cũng như các chế định về tài sản số, trí tuệ nhân tạo nói riêng đạt hiệu quả tối ưu và phù hợp với định hướng phát triển của quốc gia.
PGS.TS. Doãn Hồng Nhung; Trần Văn Dũng (Trường ĐH Luật, ĐHQG Hà Nội);
Luật gia Khổng Vũ Hà
Nguồn: Tạp chí điện tử Pháp lý
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Bùi Trang (2025), Từ luật hóa đến bảo vệ cộng đồng đầu tư tài sản số, Tạp chí Tài chính, nguồn: https://tapchitaichinh.vn/tu-luat-hoa-den-bao-ve-cong-dong-dau-tutai-san-so.html, truy cập ngày 10/8/2025.
3. Chính phủ (2020), Nghị định 47/2020/NĐ-CP về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
5. Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025.
6. Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
7. Nghị quyết số 66-NQ-TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
8. PGS.TS. Trần Minh Tâm, Tìm hiểu về trí tuệ nhân tạo, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Lang, số 13, tháng 01/2019.
9. Ths. LS. Trần Văn Tuấn (2025), Khung pháp lý về tài sản số, tiền số, tiền mã hóa: Từ cấm đến luật hóa, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, nguồn: https://lsvn.vn/khung-phap-ly-ve-tai-san-so-tien-so-tien-ma-hoa-tu-cam-den-luat-hoa-a159176.html, truy cập ngày 12/8/2025.