Tích hợp và liên kết quốc tế trong hệ thống giao dịch phát thải: Khung pháp lý tại Việt Nam
Tóm tắt
Trong bối cảnh thị trường carbon toàn cầu mở rộng nhanh và các quốc gia tăng cường liên kết quốc tế nhằm thực hiện các cam kết khí hậu, Việt Nam đang từng bước xây dựng hệ thống giao dịch phát thải (ETS) hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Bài viết đánh giá khả năng tích hợp và liên kết quốc tế của ETS Việt Nam dưới góc độ khung pháp lý hiện hành. Kết quả cho thấy, Việt Nam đã hình thành nền tảng tương đối đầy đủ thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản dưới luật, đồng thời bảo đảm tương thích với Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và Thỏa thuận Paris. Tuy nhiên, các khoảng trống vẫn tồn tại về cơ chế liên kết cụ thể và giải quyết tranh chấp phát thải xuyên biên giới,... nghiên cứu đề xuất một số giải pháp liên quan.
Từ khoá: Hệ thống giao dịch phát thải, tích hợp và liên kết quốc tế, khung pháp lý, chính sách môi trường, quản trị thị trường carbon
INTEGRATION AND INTERNATIONAL LINKAGE IN EMISSIONS TRADING SYSTEMS: THE LEGAL FRAMEWORK IN VIET NAM
Summary
In the context of the rapid expansion of the global carbon market and the growing international linkages among countries to meet climate commitments, Viet Nam is gradually developing an emissions trading system (ETS) toward the goal of net-zero emissions. This article assesses the potential for integrating and linking Viet Nam’s ETS to international frameworks from the perspective of the existing legal framework. The findings indicate that Viet Nam has established a relatively comprehensive foundation through the 2020 Law on Environmental Protection and its implementing regulations, while ensuring consistency with the UNFCCC and the Paris Agreement. However, gaps remain in specific linkage mechanisms and in resolving cross-border emissions disputes. On this basis, the study proposes several policy-oriented solutions.
Keywords: Emissions trading system, integration and international linkage, legal framework, environmental policy, carbon market governance
ĐẶT VẤN ĐỀ
ETS (Emissions Trading System) là hệ thống giao dịch phát thải. Trong đó, phát thải được ghi nhận thành dữ liệu, được một bên thứ ba xác minh để bảo đảm tin cậy. Các cơ sở chỉ được phép phát thải trong định mức được nhận, đồng thời được phép trao đổi định mức với các cơ sở phát thải khác để phù hợp với thực tế phát thải. Việc cho phép trao đổi định mức tạo sự linh hoạt kinh tế trong ngắn hạn, từ đó giảm chi phí kinh tế của việc giảm phát thải. Tổng định mức phát thải trên toàn bộ ETS sẽ được giảm dần trong dài hạn, bảo đảm phát thải khí nhà kính được giảm dần. ETS hiện là xu hướng chính sách nổi lên ở nhiều nơi trên thế giới khi các quốc gia đóng góp 58% GDP toàn cầu sử dụng ETS (ICAP và Ngân hàng thế giới, 2022). Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó, theo đó, ETS sẽ được triển khai thí điểm trong 2025 đến 2028 và vận hành toàn bộ vào 2029.
Tích hợp và liên kết thị trường carbon quốc tế là cơ chế hợp tác cho phép các khu vực pháp lý có ETS công nhận lẫn nhau và giao dịch các đơn vị phát thải (hạn ngạch hoặc tín chỉ) giữa các thị trường khác nhau, nhằm mục đích tạo một thị trường lớn hơn (ICAP và Ngân hàng Thế giới, 2022). Tích hợp và liên kết thị trường carbon quốc tế gồm 3 khía cạnh lớn theo ICAP và Ngân hàng Thế giới (2022), gồm: khía cạnh pháp lý và thể chế, khía cạnh vận hành và kỹ thuật và khía cạnh cấu trúc thị trường.
Hiện chưa phát hiện nghiên cứu về tích hợp và liên kết quốc tế trong hệ thống ETS của Việt Nam, thay vào đó, các nghiên cứu xem tích hợp và liên kết quốc tế như một phần nhỏ trong công trình của họ. Vì vậy, cần thiết có một nghiên cứu về khung pháp lý tại Việt Nam trong việc tích hợp và liên kết quốc tế trong hệ thống giao dịch phát thải.
KHUNG PHÁP LÝ CHO TÍCH HỢP VÀ LIÊN KẾT QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Khía cạnh pháp lý và thể chế
Khuôn khổ pháp lý và điều kiện tối thiểu của Việt Nam cho liên kết quốc tế
Theo Điều 18 của Văn bản hợp nhất số 10/VBHN- BNNMT, ngày 12/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, các tổ chức được cấp tín chỉ có thể đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chấp thuận chuyển giao quốc tế lượng tín chỉ hoặc kết quả giảm nhẹ phát thải từ các dự án thuộc cơ chế trao đổi, bù trừ. Đối với các dự án đầu tư công không thuộc các cơ chế này, cơ quan chủ quản phải đề xuất việc chuyển giao và tham vấn liên ngành trước khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài.
Cơ sở pháp lý quốc tế cũng là thành tố không tách rời trong cấu trúc pháp lý của ETS Việt Nam. Các quy định trong nước về thị trường carbon và giảm nhẹ phát thải được xây dựng trên cơ sở phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) và Thỏa thuận Paris. Theo quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon, các phương pháp đo đạc, báo cáo và thẩm định phải thống nhất với hướng dẫn của UNFCCC nhằm bảo đảm khả năng báo cáo và hạch toán quốc tế.
Cơ chế phối hợp và quản trị về vấn đề liên kết quốc tế
Về cơ chế tích hợp và liên kết quốc tế, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (Điều 139, Khoản 7) và Văn bản hợp nhất 10/VBHN-BNNMT (Điều 20b, Khoản 1) cho phép tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước và quốc tế theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối của Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon. Bộ có trách nhiệm tổ chức thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), báo cáo 2 năm một lần.
Trong lĩnh vực thị trường các-bon, Điều 20a của Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-BNNMT quy định rõ cơ chế chấp thuận chuyển giao quốc tế tín chỉ các- bon và kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Theo đó, tổ chức được cấp tín chỉ có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị chấp thuận đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ trưởng xem xét, quyết định ban hành văn bản chấp thuận chuyển giao. Trường hợp dự án không được chấp thuận, tín chỉ hoặc kết quả giảm nhẹ chỉ được sử dụng cho mục tiêu NDC của Việt Nam, không được tính vào mục tiêu của quốc gia khác. Cơ chế này đảm bảo tính toàn vẹn môi trường và tránh tính hai lần (double counting) trong quá trình chuyển giao tín chỉ quốc tế.
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong liên kết quốc tế
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, hiện nay, chưa phát hiện cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế chuyên biệt dành riêng cho lĩnh vực giao dịch phát thải hay các cơ chế trao đổi tín chỉ phát thải xuyên biên giới. Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tranh chấp về môi trường trên lãnh thổ Việt Nam có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết theo pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, hoặc theo thỏa thuận giữa các bên (Điều 162, khoản 4).
Khía cạnh vận hành và kỹ thuật
Chức năng liên kết quốc tế và khả năng tương tác
Về chức năng liên kết quốc tế, theo Điều 139, khoản 1 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, thị trường carbon trong nước bao gồm các hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon thu được từ cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon “trong nước và quốc tế”. Khoản 6 cho phép các cơ sở phát thải tham gia các cơ chế quốc tế và được phép giao dịch tín chỉ trên thị trường trong nước. Khoản 7 giao Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ quốc tế.
Theo Điều 18 của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon quốc tế được chia thành: (i) Cơ chế song phương hoặc đa phương giữa Chính phủ Việt Nam và bên ký kết nước ngoài theo điều ước quốc tế; (ii) Cơ chế trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) và các thỏa thuận quốc tế khác; (iii) Các cơ chế hợp tác khác phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam. Như vậy, Việt Nam có thể tham gia và công nhận kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ các-bon tạo ra từ nhiều kênh hợp tác khác nhau.
Cơ chế kiểm toán, hệ thống lưu ký và MRV
Nhìn chung, các cơ chế dung hòa giữa hệ thống giám sát, báo cáo và thẩm định (MRV) và tiêu chuẩn công nghệ trong nước với quốc tế đã được thiết lập ở mức khung pháp lý. Theo Điều 18 của Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-BNNMT, Việt Nam đã quy định thiết lập Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Hệ thống này có chức năng quản lý thông tin về sở hữu, chuyển giao, nộp trả và bù trừ tín chỉ; đồng thời đóng vai trò cổng kết nối kỹ thuật giữa sàn giao dịch các-bon trong nước và các cơ chế quốc tế. Bên cạnh đó, Điều 20a của văn bản này yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ chấp thuận chuyển giao quốc tế khi dự án tuân thủ hướng dẫn MRV theo chuẩn UNFCCC và không gây ảnh hưởng đến mục tiêu NDC của Việt Nam. Cụ thể, theo Điều 20a, khoản 4, việc chấp thuận chuyển giao quốc tế do dựa trên các tiêu chí: (i) Ý kiến thống nhất của các cơ quan, tổ chức liên quan; (ii) Mức độ phù hợp với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính quốc gia và lĩnh vực; (iii) Sự tuân thủ các quy định của UNFCCC.
Cơ chế bảo đảm minh bạch thông tin
Cơ chế bảo đảm minh bạch trong tích hợp và liên kết quốc tế của ETS Việt Nam được hình thành trên cơ sở các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo Điều 164, Khoản 6 của Luật và Điều 4, Khoản 2 của Văn bản hợp nhất số 10/2025-BNNMT, hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) được yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc về trách nhiệm, thống nhất, công bằng và minh bạch. Tính minh bạch này là yếu tố xuyên suốt trong thiết kế và vận hành hệ thống ETS, thể hiện qua các cơ chế đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) và hệ thống đăng ký quốc gia.
Về khía cạnh tuân thủ chuẩn mực quốc tế, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, ngày 09/6/2025 sửa dổi bổ sung một số điều của Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định rõ rằng các tổ chức thực hiện thẩm định, kiểm định hoặc xác nhận kết quả giảm phát thải phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế được công nhận, bao gồm TCVN ISO 14065 (về năng lực của tổ chức thẩm định khí nhà kính) và TCVN ISO 14064-3 (về hướng dẫn kỹ thuật cho hoạt động xác nhận và kiểm định). Việc viện dẫn các tiêu chuẩn này thể hiện định hướng hài hòa pháp luật trong nước với thông lệ quốc tế.
Cấu trúc thị trường cho thị trường quốc tế
Phạm vi thị trường đối với thị trường quốc tế
Phạm vi thị trường cho thị trường quốc tế trong ETS Việt Nam được xác định tương đối toàn diện, bao gồm cả các hoạt động trong nước và khả năng liên kết với thị trường quốc tế. Trong đó, phạm vi thị trường đối với thị trường quốc tế bao gồm “trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon thu được từ các cơ chế trao đổi, bù trừ trong nước và quốc tế”, theo Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường 2020.
Đối tượng tham gia được phân định rõ tại Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-BNNMT. Điều 16, Khoản 1 quy định đối tượng thực hiện trao đổi hạn ngạch phát thải là các cơ sở được phân bổ hạn ngạch; trong khi Khoản 2 của điều này xác định đối tượng trao đổi tín chỉ carbon là các cơ quan, tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam.
Ngưỡng trần và vấn đề toàn vẹn môi trường
Về vấn đề toàn vẹn môi trường, trọng tâm được đặt vào quy trình chấp thuận chuyển giao nhằm ngăn ngừa tính hai lần và bảo đảm khả năng điều chỉnh tương ứng với NDC.
Nguyên tắc bảo vệ mục tiêu NDC và tránh tính trùng được xem là cơ chế cốt lõi để duy trì hiệu lực của ngưỡng trần phát thải và tính toàn vẹn của hệ thống ETS. Văn bản hợp nhất 10/VBHN-BNNMT (Điều 20a, Khoản 4, điểm c) quy định rằng, đối với các dự án không được cấp Thư chấp thuận chuyển giao quốc tế, kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon chỉ được phép sử dụng cho mục tiêu NDC của Việt Nam, không được đóng góp cho mục tiêu của quốc gia khác hay cơ chế giảm nhẹ toàn cầu khác. Quy định này nhằm ngăn chặn rò rỉ carbon và bảo đảm mỗi đơn vị tín chỉ chỉ được ghi nhận một lần trong phạm vi cam kết quốc gia.
Tính linh hoạt cho thị trường thứ cấp
Đối với tính thanh khoản, khung pháp lý Việt Nam cho phép tín chỉ quốc tế được lưu thông và giao dịch trên thị trường trong nước, đồng thời thiết lập cơ sở hạ tầng kỹ thuật để quản lý việc chuyển giao và xác nhận tín chỉ. Theo Luật Bảo vệ môi trường 2020 (Điều 139, Khoản 6), các cơ sở phát thải khí nhà kính có thể tham gia cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật, qua đó tăng cường khả năng lưu thông tín chỉ trên thị trường nội địa. Văn bản hợp nhất số 10/2025-BNNMT (Điều 19, Khoản 3, điểm b) quy định rằng đối với tín chỉ từ các chương trình hoặc dự án thuộc cơ chế quốc tế, tổ chức tham gia phải nộp hồ sơ đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận tín chỉ được phép giao dịch trên sàn giao dịch carbon, kèm chứng nhận của cơ quan quản lý cơ chế. Cách thức này giúp sàng lọc và hợp thức hóa tín chỉ quốc tế, bảo đảm tính hợp lệ và truy xuất nguồn gốc.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Việc hình thành và phát triển ETS tại Việt Nam là bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế về biến đổi khí hậu. Nghiên cứu chỉ ra rằng, ETS Việt Nam được xây dựng trên nền tảng pháp lý hoàn thiện và phù hợp với các cam kết quốc tế như UNFCCC và Thỏa thuận Paris, gồm bộ luật cấp cao, luật chuyên ngành và cơ sở quốc tế. Những tiến triển này đặt nền móng cho khả năng liên kết và tích hợp quốc tế trong tương lai gần. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đối mặt với khoảng trống pháp lý trong việc xác lập cơ chế liên kết song phương hoặc đa phương cụ thể, cũng như thiếu vắng các quy định giải quyết tranh chấp quốc tế về phát thải. Đây là điểm nghẽn cần được khắc phục để bảo đảm tính toàn vẹn môi trường và khả năng hội nhập thị trường carbon toàn cầu.
Từ đó, nghiên cứu đề ra một số giải pháp sau:
Thứ nhất, chuẩn hóa cơ chế liên kết quốc tế. Cần ban hành văn bản dưới luật chuyên biệt quy định về liên kết ETS song phương và đa phương, làm rõ điều kiện công nhận tương đương hệ thống, nguyên tắc điều chỉnh tương ứng, và phạm vi công nhận hạn ngạch, tín chỉ. Quy định này nên tham chiếu trực tiếp Điều 6 Thỏa thuận Paris, đồng thời cho phép thí điểm liên kết có kiểm soát với một số đối tác chiến lược.
Thứ hai, thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp phát thải xuyên biên giới. Nên bổ sung quy định cho phép lựa chọn trọng tài quốc tế hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp theo điều ước quốc tế trong các giao dịch tín chỉ và hạn ngạch quốc tế, qua đó giảm rủi ro pháp lý và tăng độ tin cậy cho nhà đầu tư.
Thứ ba, nâng cấp hạ tầng pháp lý - kỹ thuật. Cần hoàn thiện hệ thống đăng ký quốc gia theo chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng tương tác dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và phòng ngừa tính hai lần. Cùng với đó, quy định rõ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia MRV và kiểm toán độc lập.
Thứ tư, tăng cường điều phối thể chế và năng lực thực thi. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành ổn định giữa Bộ Nông nghiệp Môi trường, Bộ Tài chính và Bộ Công Thương trong quản trị ETS và liên kết quốc tế, kết hợp đào tạo chuyên sâu về pháp lý carbon cho cán bộ quản lý.
(*) Đây là sản phẩm của Chuyên đề sinh viên NCKH của Trường Đại học Ngoại thương, mã số: NTCĐ2025-12
ThS. Trần Thanh Tâm
Bộ môn Kinh tế - Luật, Trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II TP. Hồ Chí Minh;
Nguyễn Minh Quang, Trần Minh Hiếu
Trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II TP. Hồ Chí Minh
Nguyễn Thọ An
Trường Đại học Monash, Úc
Nguồn: Tạp chí Kinh tế Tài chính
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-BNNMT, ngày 12/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
2. Chính phủ (2022). Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
3. Guo, N. (2022). Legal issues in the implementation of China’s emissions trading scheme. Journal of Energy & Natural Resources Law, 41(3), 305–320. https://doi.org/10.1080/02646811.2022.2134622
4. ICAP và Ngân hàng Thế giới (2022). Governance of emissions trading systems. https://icapcarbonaction.com/system/ files/document/governance-of-emissions- -trading-systems.
5. Liu, Q., & Yin, Y. (2024). Strategies for emission reduction in construction: The role of China’s carbon trading market. Journal of the Knowledge Economy. https://doi.org/10.1007/s13132-024-02009-5ets_paper_march_2022_0.pdf
6. Liên hợp quốc (1992). Công ước khung của về Biến đổi khí hậu (UNFCCC).
7. Nguyễn Tiến Đạt (2022). Mua bán quyền phát thải khí nhà kính kinh nghiệm pháp lý quốc tế và thực tiễn xây dựng pháp luật của Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
8. Nguyễn Hồng Loan và Phạm Phương Linh. (2024). Nâng cao năng lực trong đánh giá thực trạng pháp luật, hạ tầng và kinh nghiệm quốc tế để thiết kế sàn giao dịch tín chỉ các-bon tại Việt Nam. https://www.energytransitionpartnership.org/wp-content/uploads/2024/09/20240524_Final-Report-final_VN.pdf
9. Nguyễn Ngọc Khánh Linh và Nguyễn Duy Thanh. (2024). Pháp luật về thị trường tín chỉ carbon bắt buộc tại một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam. Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, 60(30).
10. Nguyễn Thị Huyền và Nguyễn Trang Linh (2025). Hoàn thiện pháp luật về thị trường các-bon ở Việt Nam. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1058202/hoan-thien-phap-luat-ve-thi-truong-cac-bon-o-viet-nam.aspx.
11. Nguyễn Ngọc Khánh Linh, & Nguyễn Duy Thanh. (2024). Pháp luật về thị trường tín chỉ carbon bắt buộc tại một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam. Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, (60), 30. https://tapchi.hul.edu.vn/index. php/jl/article/view/410
12. Qin, T., & Zhang, M. (2023). China’s emissions trading scheme: A legal analysis. In G. Van Calster & L. Reins (Eds.), The research handbook on climate change mitigation law (2nd ed., pp. 248–268). Edward Elgar Publishing. https:// www.elgaronline.com/abstract/book/9781788972949/book-part-9781788972949-11.xml
13. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường, số 72/2020/QH14, ngày 17/11/2020.
14. Shi, Y. (2024). China’s national emissions trading scheme: A legal analysis of the regulatory framework. https://lup.lub.lu.se/luur/download?unc=downloadFile&recordOId=9157064&fileOId=9157065.
15. TCVN ISO 14064-3:2011 (2011). Khí nhà kính - Phần 3: Quy định kỹ thuật và hướng dẫn đối với thẩm định và kiểm định các khẳng định về khí nhà kính.
16. TCVN ISO 14065:2020 (2020). Các nguyên tắc chung và yêu cầu đối với các tổ chức thẩm định và kiểm định thông tin môi trường.
17. Võ Xuân Vinh (2024). Thị trường tín chỉ Carbon: Góc nhìn từ kinh tế, môi trường và khuôn khổ pháp lý. https://ibr.ueh. edu.vn/tin-tuc/thi-truong-tin-chi-carbon-goc-nhin-tu-kinh-te-moi-truong-va-khuon-kho-phap-ly-626
18. Zeng, X., Duan, M., Yu, Z., Li, W., Li, M., & Liang, X. (2018). Data-related challenges and solutions in building China’s national carbon emissions trading scheme. Climate Policy, 18(sup1), 90–105. https://doi.org/10.1080/14693062.2018.1473239
Zeng, Y., Faure, M. G., & Feng, S. (2024). Localization vs globalization of carbon emissions trading system (ETS) rules: How will China’s national ETS rules evolve? Climate Policy, 1–15. https://doi.org/10.1080/14693062.2024.2427724